Địa vị pháp lý, trách nhiệm, năng lực của pháp nhân

Địa vị pháp lý, trách nhiệm, năng lực của pháp nhân

Pháp nhân là những tổ chức có tư cách pháp lý độc lập để tham gia các hoạt động dân sự, kinh tế, xã hội... một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức rõ ràng; có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.

- Có hai loại pháp nhân: Pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì không phân chia cho các thành viên.

- Địa vị pháp lý của pháp nhân thể hiện ở năng lực pháp luật mà pháp luật quy định cho pháp nhân. Trong đó địa vị pháp lý của pháp nhân còn được Bộ luật Dân sự 2015 quy định ở các quyền gắn liền với nhân thân của pháp nhân, như: Tên gọi, trụ sở, quốc tịch của pháp nhân; quyền thành lập, đăng ký, ban hành điều lệ của pháp nhân; quyền hợp nhất, sát nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức và giải thể pháp nhân (từ Điều 78 đến Điều 93).

1. Năng lực của pháp nhân

Năng lực chủ thể của pháp nhân bao gồm năng lực hành vi và năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân.

a. Năng lực pháp luật dân sự:
- Phát sinh đồng thời và chấm dứt năng lực hành vi.
- Pháp nhân có năng lực từ khi được thành lập hoặc từ khi đăng ký nếu pháp luật quy định.
- Pháp nhân chấm dứt tại thời điểm có căn cứ do pháp luật quy định.
- Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân mang tính chất chuyên biệt(chuyên trách trong một lĩnh vực xác định).

b. Năng lực hành vi dân sự:
- Pháp nhân có năng lực hành vi dân sự và thể hiện qua các hoạt động nội tại và qua hoạt động giao tiếp bên ngoài; nó được thể hiện qua hành vi đại diện hợp pháp, ngoài ra còn thể hiện hành vi của nhân viên, của những người được giao nhiệm vụ cụ thể khi giao dịch với người bên ngoài pháp nhân.
- Để tham gia các giao dịch dân sự, pháp nhân phải thông qua hành vi cụ thể của người đại diện. Khi pháp nhân không thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ dân sự của mình thì pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của pháp nhân.

2. Trách nhiệm của pháp nhân

Với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật, pháp nhân hoạt động thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền. Khi tham gia các quan hệ pháp luật, thì “một pháp nhân được hưởng những quyền và có những nghĩa vụ tương tự như thể nhân, trừ những quyền và nghĩa vụ, vì tính chất của chúng, chỉ có thể dành cho hoặc mắc chịu bởi một thể nhân” (Điều 70, Các quyển I - VI).

Việc tạo ra pháp nhân với tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt đối với quyền lợi của bên thứ ba trong quan hệ pháp luật. Khi bên thứ ba có tranh chấp với pháp nhân là một tổ chức sẽ không phải thực hiện việc khởi kiện từng thành viên của pháp nhân, mà chủ thể bị đơn trong trường hợp này là pháp nhân. Pháp nhân bảo đảm trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng toàn bộ tài sản có được từ khi thành lập và trong quá trình hoạt động của pháp nhân. Trách nhiệm đó được gọi là trách nhiệm dân sự của pháp nhân. Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự: Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nếu không tự nguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự về những hành vi được coi là hành vi của pháp nhân: Hành vi của pháp nhân được hiểu là hành vi của người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền nhân danh pháp nhân và hành vi của các thành viên pháp nhân trong phạm vi nhiệm vụ được pháp nhân giao. Trong trường hợp người đại diện của pháp nhân thực hiện với tư cách cá nhân thì sẽ không làm phát sinh trách nhiệm dân sự cho pháp nhân.

- Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình: Tài sản chịu trách nhiệm là tài sản độc lập của pháp nhân. Tài sản của pháp nhân được hình thành bằng sự góp vốn của các chủ sở hữu và tài sản hình thành trong quá trình hoạt động của pháp nhân và riêng biệt với khối tài sản của các thành viên; là tất cả các loại tài sản mà pháp nhân sở hữu và pháp nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Theo Luật Doanh nghiệp, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông công ty cổ phần, thành viên góp vốn trong công ty hợp danh chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp hay đã góp vào doanh nghiệp. Khi pháp nhân thực hiện nguyên tắc tách biệt về tài sản cũng là khi xuất hiện một tính pháp lý mới, tách biệt với tính pháp lý của chủ sở hữu hoặc cộng đồng sở hữu. Rõ ràng, tư cách chủ thể của pháp nhân được chứng minh là độc lập với các chủ sở hữu về mặt tài sản. Khi đó, các pháp nhân tham gia các quan hệ tài sản sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến trách nhiệm về tài sản của pháp nhân.

- Pháp nhân không chịu trách nhiệm thay cho thành viên và ngược lại: Pháp nhân sẽ không chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, đồng thời, người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện.

3. Liên hệ thực tế trong bộ luật dân sự

Theo quy định tại Điều 87 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trách nhiệm dân sự của pháp nhân được đặt ra khi:
Thứ nhất, pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.
Thứ hai, pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân.
Thứ ba, trách nhiệm dân sự của pháp nhân phát sinh trong trường hợp người của pháp nhân gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao.

Kết luận

Qua việc phân tích khái niệm, phân loại, năng lực pháp lý cũng như trách nhiệm dân sự của pháp nhân, có thể khẳng định rằng pháp nhân là một chủ thể độc lập, có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống các quan hệ pháp luật dân sự. Việc pháp luật thừa nhận tư cách pháp nhân không chỉ tạo cơ sở cho các tổ chức tham gia bình đẳng vào các quan hệ dân sự, kinh tế, xã hội mà còn góp phần bảo đảm tính ổn định, an toàn và minh bạch cho các giao dịch. Nguyên tắc tách bạch về tài sản và trách nhiệm giữa pháp nhân và các thành viên là nền tảng pháp lý quan trọng, vừa bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba, vừa khuyến khích các chủ thể mạnh dạn đầu tư, tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về năng lực và trách nhiệm của pháp nhân cho thấy sự tiếp cận ngày càng hoàn thiện của pháp luật Việt Nam trong việc ghi nhận và điều chỉnh địa vị pháp lý của pháp nhân, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập pháp lý quốc tế.
Chuyên mục Dân sự cung cấp kiến thức chuyên sâu về quan hệ dân sự, nghĩa vụ, hợp đồng và các quy định pháp luật liên quan trong lĩnh vực dân sự.