Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Đây là những tình huống hình sự mình sưu tầm được trong quá trình ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư. Nay chia sẻ lên đây để mọi người tham khảo, trao đổi, thảo luận.

Tình huống hình sự 01

Anh H là nhân viên giao hàng của một công ty vận chuyển. Trong một lần đi giao hàng vào buổi tối, anh H phát hiện một gói hàng đựng trong túi giấy bị rách nhẹ. Anh tò mò mở ra xem thì thấy bên trong là một chiếc điện thoại iPhone 15 Pro Max mới nguyên hộp, có hóa đơn ghi giá trị hơn 35 triệu đồng.
Anh H nảy sinh ý định chiếm đoạt. Anh lén thay chiếc điện thoại thật bằng một mô hình nhựa y hệt, sau đó đóng gói lại y như cũ, dán lại cẩn thận và tiếp tục giao hàng đến đúng địa chỉ như bình thường. Khách hàng nhận gói hàng, mở ra mới phát hiện bị tráo đồ và báo cho công ty. Qua trích xuất camera và điều tra nội bộ, hành vi của anh H bị phát hiện.

Câu hỏi: Theo anh chị, hành vi của anh H cấu thành tội gì? Vì sao?

Tình huống hình sự 02

Vào khoảng 22h, tại một quán nhậu trên đường X, anh T và anh Q xảy ra mâu thuẫn trong lúc uống rượu. Anh Q tức giận, liền cầm một chai bia đập vào đầu anh T làm anh T ngã gục xuống nền. Thấy nạn nhân không cử động, Q không bỏ chạy, mà lấy điện thoại gọi cấp cứu, đồng thời chờ tại hiện trường đến khi xe cứu thương tới. Anh T được cứu sống, tuy nhiên giám định thương tật xác định bị chấn thương sọ não, tổn hại 58% sức khỏe.

Câu hỏi: Theo anh chị, hành vi của anh Q cấu thành tội gì? Vì sao?
Google Adsense
Đã xác thực
Quảng Cáo

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Đối với tình huống 1: Theo quan điểm của em, có hai trường hợp cần phân biệt như sau:

1. Trường hợp công ty là người tố cáo:
Khi đó, hành vi của H có thể bị xem xét là “Tham ô tài sản” theo quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Lý do: H là người được giao quản lý tài sản của công ty (điện thoại iPhone), nhưng đã lợi dụng chức vụ/quyền hạn để chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty.

2. Trường hợp khách hàng là người tố cáo:
Khi đó, hành vi của H có dấu hiệu cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015.
Phân tích:
- H phát hiện điện thoại là hàng thật nhưng đã nảy sinh ý định chiếm đoạt.
- H cố tình mua một điện thoại mô hình thay thế để đánh tráo, sau đó giao hàng giả cho khách nhằm chiếm đoạt điện thoại thật.
→ Hành vi này thể hiện thủ đoạn gian dối ngay từ thời điểm giao dịch, nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác (khách hàng), đủ dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo.

Kết luận:
Tùy vào chủ thể tố cáochủ sở hữu hợp pháp của tài sản bị chiếm đoạt, hành vi của H sẽ bị xem xét theo một trong hai tội danh nêu trên.
→ Cần xác định rõ tư cách pháp lý của người tố cáoai là chủ sở hữu của tài sản để định tội danh chính xác.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Hành vi của H là chiếm đoạt tài sản. Có điều kiện cần là có quyền hạn để thực hiện công việc. Sẽ là lạm dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản hay tội tham ô tài sản. Trường hợp này, em thấy giống với trường hợp lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham ô tài sản hơn. Tài sản không thuộc sở hữu của cty vận tải, anh H đc giao nhiệm vụ vận chuyển tài sản cho khách, chứ ko đc giao quyền quản lý tài sản.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Theo quy định của BLDS, nếu không có thoả thuận nào khác thì thời điểm chuyển giao rủi ro và chuyển giao quyền sở hữu là khi bên mua nhận được hàng. Như vậy trước khi hàng hoá được giao thì hàng hoá vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán hàng. Thông qua hợp đồng giao nhận hàng hoá, shipper dưới sự ủy quyền của công ty đang là bên nhận được hàng hoá. Và ở đây shipper đang thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản nên Shipper có dấu hiệu về mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Sau khi đọc lại và thấy phạm vi tác động là cty, được coi là tổ chức, quyền sở hữu tài sản được chuyển từ người bán sang cho cty vận chuyển, người vận chuyển theo quyền hạn và trách nhiệm của mình là quản lý và vận chuyển cho khách. Chức vụ của người vận chuyển là nhân viên (theo hợp đồng với cty vận chuyển). Thì e đồng ý với quan điểm là tham ô tài sản theo điều 353 BLHS ạ.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Theo quan điểm của mình, hành vi của H cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Lý do như sau:
- Người phạm tội trộm cắp tài sản có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở để chiếm đoạt tài sản.
- Trong tình huống này, H đã lợi dụng sơ hở là túi hàng bị rách để mở ra xem. Sau khi phát hiện đó là điện thoại thật, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt.
- Tiếp theo, H đã lén lút thực hiện hành vi tráo hàng bằng cách mua điện thoại mô hình để thay thế, sau đó đóng gói lại như ban đầu nhằm tránh bị phát hiện.
→ Đây là hành vi có tính chất gian dối, thực hiện trong âm thầm, không công khai.

Về mặt chủ quan:
- H nhận thức rõ việc tráo đổi là sai trái nhưng vẫn cố tình thực hiện để chiếm đoạt tài sản.
- Ý thức chiếm đoạt tài sản hình thành ngay sau khi phát hiện hàng thật, thể hiện qua hành vi cụ thể là đi mua mô hình thay thế.

Về hậu quả:
- Tài sản bị chiếm đoạt một cách bất hợp pháp, gây thiệt hại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Kết luận:
→ Hành vi của H phù hợp với các dấu hiệu pháp lý của tội Trộm cắp tài sản, khi chiếm đoạt tài sản bằng phương thức lén lút, lợi dụng sơ hở, không công khai, và gây hậu quả cụ thể.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Phân tích và so sánh 4 tội danh có thể đặt ra trong tình huống của H:
(Trộm cắp – Lừa đảo – Lạm dụng tín nhiệm – Tham ô tài sản)

1. Trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS)
- Dấu hiệu: Chiếm đoạt tài sản một cách lén lút, không có sự đồng ý của chủ tài sản.
- Áp dụng với H: H phát hiện túi hàng bị rách, mở ra xem và tráo bằng hàng giả. Tuy nhiên, H được giao vận chuyển tài sản hợp pháp, chứ không chiếm đoạt từ bên ngoài.
→ Thiếu yếu tố “lén lút chiếm đoạt ngay từ đầu” → Không hoàn toàn phù hợp với cấu thành tội trộm cắp.

2. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS)
- Dấu hiệu: Dùng thủ đoạn gian dối để làm người khác tin tưởng giao tài sản, từ đó chiếm đoạt.
- Áp dụng với H: H không khiến ai giao tài sản cho mình bằng thủ đoạn lừa dối. Thay vào đó, H đã được công ty giao tài sản hợp pháp → thiếu dấu hiệu “gian dối để chiếm đoạt từ đầu”.
=> Không phù hợp với cấu thành tội lừa đảo.

3. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS)
- Dấu hiệu: Người phạm tội được giao tài sản hợp pháp (nhờ giữ, vận chuyển, sử dụng...), sau đó lợi dụng sự tín nhiệm để chiếm đoạt.
- Áp dụng với H:
+ H được công ty giao điện thoại hợp pháp để giao cho khách hàng.
+ Trong quá trình vận chuyển, H lợi dụng sơ hở, tráo hàng thật bằng hàng giả để chiếm đoạt.
+ Hành vi được thực hiện sau khi đã có quyền chiếm giữ tài sản hợp pháp ban đầu.
Hành vi có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

4. Tham ô tài sản (Điều 353 BLHS)
- Dấu hiệu: Phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức Nhà nước, lợi dụng chức vụ để chiếm đoạt tài sản nhà nước.
- Áp dụng với H: Nếu H chỉ là nhân viên công ty tư nhân thì không thuộc chủ thể đặc biệt của tội tham ô.
→ Không phù hợp trong tình huống này.

Theo mình:
- Hành vi của H phù hợp nhất với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS.
- Vì H được công ty giao tài sản hợp pháp nhưng đã lợi dụng sự tín nhiệm để chiếm đoạt bằng cách tráo đổi tài sản.
→ Đây là hành vi có lỗi cố ý, thực hiện bằng phương thức gian dối sau khi đã có quyền chiếm giữ tài sản một cách hợp pháp.

Quan điểm của mình là: Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Tình huống 1:
Hành vi của H cấu thành tội lạm dụng chiếm đoạt tải sản (tài sản của công ty) theo quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự. Bởi lẽ:

- Về mặt khách quan, sau khi nhận hàng, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách thay chiếc điện thoại này bằng chiếc điện thoại giả bằng nhựa để chiếm đoạt với giá trị tài sản theo hóa đơn là 15 triệu đồng.

- Về mặt chủ quan, H đã lợi dụng sự tín nhiệm là nhân viên của công ty nên nảy sinh ý thức chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại iPhone sau khi được nhận hàng để giao cho khách. Việc thay chiếc điện thoại là thủ đoạn gian dối của H.

Tình huống 2:
- Hành vi của Q cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134, Bộ luật hình sự. Vì:

+ Về hành vi khách quan, Q đã dùng chai đập vào đầu T làm T bị thương tích 58%, đây là hành vi nguy hiểm, phải chịu trách nhiệm hình sự

+ Về mặt chủ quan, do mâu thuẫn nên dẫn đến bức xúc, không kiềm chế được nên Q đã dùng luôn cái chai trong quán bia để đập vào đầu T (không có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tồi) và sau khi thấy T bị ngã xuống, không cử động, nhưng Q không bỏ chạy, mà chủ đồng lấy điện thoại gọi cấp cứu và chờ tại hiện trường đến khi xe cứu thương tới để cứa chữa và hậu quả là T chỉ bị thương, không tử vong. Như vậy, trường hợp này cho thấy mặc dù T dùng chai là loại hung khí nguy hiểm đập vào vùng trọng yếu của nạn nhân một cái làm nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương là 58%, nhưng T hoàn toàn không có mục đích tước đoạt sinh mạng của T và thực tế chưa có hậu quả chết người xảy ra.

Do vậy, Q phạm tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự mà không phạm tội giết người.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Tình huống hình sự 2:
Theo ý kiến của em: Hành vi của Q phạm tội giết người, do sử dụng vật cứng đánh, đâm vào vùng trọng yếu cơ thể (đầu, ngực). Tuy chưa dẫn đến hậu quả chết người nhưng vẫn bị truy tố tội giết người chưa đạt.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Tình huống hình sự 2:
Theo mình, không cấu thành tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 vì các lý do sau:

1. Không thỏa mãn mặt chủ quan của tội phạm Giết người:
- Mặt chủ quan của tội Giết người đòi hỏi lỗi cố ý, bao gồm:
+ Cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi sẽ gây chết người và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
+ Cố ý gián tiếp: Người phạm tội tuy không mong muốn hậu quả chết người nhưng thấy trước khả năng đó và có ý thức bỏ mặc.

- Trong tình huống này, Q không mong muốn cái chết xảy ra cho T.
→ Bằng chứng là Q không bỏ trốngọi cấp cứu và đi theo xe cấp cứu để đưa T đến bệnh viện.
→ Điều đó cho thấy Q không có ý thức tước đoạt mạng sống của T.

2. Hành vi phù hợp với tội Cố ý gây thương tích (Khoản 3 Điều 134 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017):
- Q và T mâu thuẫn, dẫn đến xô xát.
- Trong lúc bốc đồng, mất bình tĩnh, Q đã dùng chai bia tấn công T, gây thương tích.
→ Hành vi mang tính bộc phát, không có sự chuẩn bị, không thể hiện ý định giết người.
→ Mục đích là gây thương tích chứ không phải tước đoạt tính mạng.

Như vậy:
→ Hành vi của Q không cấu thành tội Giết người theo Điều 123.
Cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) mới là phù hợp.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Tình huống hình sự 2:
Hành vi sử dụng hung khí là chai bia. Khách thể tội phạm là xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe và bất khả xâm phạm về thân thể của con người. Về lỗi ở đây là lỗi cố ý gián tiếp. Q sau đó không bỏ chạy mà lấy điện thoại gọi cấp cứu, đồng thời chờ tại hiện trường đến khi xe cứu thương tới, tức là vẫn có khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi. Tức anh Q này nhận thức được hành vi của mình có thể gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nhưng vẫn thực hiện hành vi đó, và đồng ý để hậu quả đó xảy ra. Thể hiện ở chỗ anh chủ động cầm chai bia đập vào đầu anh T. Hậu quả gây thương tích, tổn hại sức khoẻ 58%. Do vậy hành vi trên cấu thành tôi cố ý gây thương tích theo Điều 134.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Với tình huống này theo em anh Q không phạm tội giết người, vì khi thấy anh T bị thương thì anh Q đã gọi cấp cứu, điều này chứng tỏ anh Q không mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra (không thoả mãn yếu tố lỗi trong CTTP). Vì vậy, Q phạm tội Cố ý gây thương tích.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Hành vi của bị cáo rõ ràng đâm vào chỗ trọng yếu dẫn đến chết người, không thể nói bị cáo gọi điện thoại gọi cấp cứu là có thể nói bị cáo không giết người. Nếu như thế thì người phạm tội lợi dụng tình tiết này loại trừ tội giết người rất nguy hại cho xh, Đề nghi Hdxx không chấp nhận quan điểm bảo chua của luật sư bị cáo.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Thằng Q là tội giết ng thầy ạ, ls gỡ nếu cho là nó không mong muốn tước đoạt tính mạng ng khác, nhưng ls của bị hại phản bác lại anh Q k mong muốn mà chỉ vì lý do nhỏ nhặt đã gây ra cho nạn nhân như vậy là mang tính côn đồ, k1 đ123 blhs, a Q dùng hung khí đập vào đỉnh đầu là vùng trọng yếu biết hoặc bắt buộc phải biết có thể dẫn đến chết ng mà vẫn làm, nếu ko đc cấp cứu kịp thời nạn nhân hoàn toàn có thể chết, việc Q ko chạy mà gọi cấp cứu là tình tiết để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Q.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Trong CTTP của tội giết người thì mặt chủ quan là lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp). Nghĩa là bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc có ý bỏ mặc cho hậu qủa xảy ra. Tuy nhiên ở đây bị cáo Q khi thấy nạn nhân bị thương thì đã không bỏ chạy mà đã gọi cấp cứu để cứu chữa cho nạn nhân. Điều này chứng tỏ bị cáo hoàn toàn không mong muốn hậu qủa chết người xảy ra và không bỏ mặc cho hậu quả xay ra. Cho nên hành vi của bị cáo Q không thoả mãn CTTP của tội giết người.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Đối với Án lệ số 47, thì không phải lúc nào dùng hung khí nguy hiểm và đâm vào vùng trọng yếu thì đều cấu thành tội giết người, mà còn phải xem xét về cường độ tấn công, lực tấn công, các chứng cứ khác trong vụ án,...

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Tình huống hình sự 1:
Em xin trả lời tình huống: Hành vi của H cấu thành tội Tội tham ô tài sản theo Điều 353 BLHS 2015. Vì:

- Về khách thể:
Quan hệ xã hội bị xâm hại: Sự hoạt động đúng đắn của tổ chức giao hàng qua đó ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức
Đối tượng tác động: Tài sản mà anh H, người có trách nhiệm quản lý - chiếc điện thoại iPhone 15 Pro Max

- Về mặt khách quan:
Hành vi phạm tội: Anh H lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình, một nhân viên giao hành để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý tức chiếc điện thoại iPhone 15 Pro Max và thay bằng một mô hình nhựa y hệt, sau đó đóng gói lại y như cũ, dán lại cẩn thận và tiếp tục giao hàng đến đúng địa chỉ như bình thường.

Giá trị tài sản mà anh H có trách nhiệm quản lý là 35 triệu đồng > 2 triệu đồng nên thỏa mãn định lượng Tội tham ô theo Điều 353 BLHS 2015.. Hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn một nhân viên giao hàng của anh H là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ảnh hưởng uy tín của tổ chức giao hàng.

- Chủ thể: H là có NLTNHS đầy đủ và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
H là người có trách nhiệm quản lý chiếc điện thoại do chức vụ quyền hạn đem lại.

- Về mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp bởi lẽ anh H cố ý lợi dụng việc mình là nhân viên giao hàng của công ty để chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại iPhone khi giao cho khách. Việc thay mô hình điện thoại giả là thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội của anh H.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Tình huống hình sự 1:
Theo em là trộm cắp, khách hàng tin tưởng công ty đặt hàng mua điện thoại, công ty vận chuyển nhận hàng quản lý điện thoại cho khách, công ty giao cho H giao hàng, H tráo hàng để khách nhận. Điện thoại thuộc quyền sở hữu của khách hàng theo Điều 158 BLDS 2015. Việc quản lý tài sản là khách hàng ủy quyền cho công ty giao hàng chứ không phải là H, H không phải là người khách hàng tin tưởng giao hàng để quản lý.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Giang Bùi đã viết: 00:19 - 7/8/2025 Tình huống 1:
Hành vi của H cấu thành tội lạm dụng chiếm đoạt tải sản (tài sản của công ty) theo quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự. Bởi lẽ:

- Về mặt khách quan, sau khi nhận hàng, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách thay chiếc điện thoại này bằng chiếc điện thoại giả bằng nhựa để chiếm đoạt với giá trị tài sản theo hóa đơn là 15 triệu đồng.

- Về mặt chủ quan, H đã lợi dụng sự tín nhiệm là nhân viên của công ty nên nảy sinh ý thức chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại iPhone sau khi được nhận hàng để giao cho khách. Việc thay chiếc điện thoại là thủ đoạn gian dối của H.

Tình huống 2:
- Hành vi của Q cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134, Bộ luật hình sự. Vì:

+ Về hành vi khách quan, Q đã dùng chai đập vào đầu T làm T bị thương tích 58%, đây là hành vi nguy hiểm, phải chịu trách nhiệm hình sự

+ Về mặt chủ quan, do mâu thuẫn nên dẫn đến bức xúc, không kiềm chế được nên Q đã dùng luôn cái chai trong quán bia để đập vào đầu T (không có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tồi) và sau khi thấy T bị ngã xuống, không cử động, nhưng Q không bỏ chạy, mà chủ đồng lấy điện thoại gọi cấp cứu và chờ tại hiện trường đến khi xe cứu thương tới để cứa chữa và hậu quả là T chỉ bị thương, không tử vong. Như vậy, trường hợp này cho thấy mặc dù T dùng chai là loại hung khí nguy hiểm đập vào vùng trọng yếu của nạn nhân một cái làm nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương là 58%, nhưng T hoàn toàn không có mục đích tước đoạt sinh mạng của T và thực tế chưa có hậu quả chết người xảy ra.

Do vậy, Q phạm tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự mà không phạm tội giết người.

Khi đi học, thầy giáo có quan điểm như này nhé mọi người!

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Tình huống 2:
Xét động cơ, mục đích của Q không có ý định giết người. Nên hậu quả của hành vi đến đâu sẽ bị xử lý đến đó. Nếu T chết thì xử lý Q tội giết người, nếu T chỉ bị thương tích thì xử lý T tội cố ý gây thương tích.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Mục đích, động cơ trong tội giết người không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm bạn Tuyết nhé!

Mình cũng xin chia sẻ thêm về mặt chủ quan của tội phạm giết người:

- Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý. Lỗi cố ý này có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc là lỗi cố ý gián tiếp.
+ Trong trường hợp tước đoạt mạng sống của người khác với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội thấy trước được hành vi của mình sẽ gây hậu quả chết người (hậu quả chết người tất nhiên sẽ xảy ra), nhưng vì mong muốn hậu quả xảy ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
+ Trong trường hợp giết người với lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy nhiên để đạt được mục đích của mình, người phạm tội có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra, hay nói cách khác, họ chấp nhận cho hậu quả đó xảy ra, cụ thể:
- Nếu hậu quả gây chết người chưa xảy ra trên thực tế và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, thì trong trường hợp này người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng trong giai đoạn giết người chưa đạt.
- Còn nếu hậu quả chết người chưa xảy ra trên thực tế và người phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ bị chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích (nếu nạn nhân có thương tích xảy ra) hay các tội khác mà người phạm tội đã thực hiện, mà không bị chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt như với lỗi cố ý trực tiếp.

Re: Tình huống hình sự - Ôn thi kết thúc tập sự hành nghề luật sư

Chốt lại: Tình huống 1 là tội lạm dụng chiếm đoạt tải sản (quy định tại Điều 135 BLHS) và tình huống 2 là tội cố ý gây thương tích (quy định tại khoản 2 Điều 134 BLHS).
Chuyên mục Hình sự cung cấp kiến thức chuyên sâu về tội phạm, trách nhiệm hình sự và các quy định pháp luật trong lĩnh vực hình sự.